Tìm kiếm Blog này

Thứ Năm, 2 tháng 12, 2010

Thế giới cần một hệ thống tiền tệ quốc tế khác

Sự tương đồng giữa chế độ “bản vị đôla” với hệ thống Bretton Woods nguyên bản cho thấy nhiều vấn đề hiện nay cũng từng nảy sinh trong quá khứ.


Ngoài tích lũy ngoại hối, còn nhiều biện pháp bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô khác.

Những bài học lịch sử

Sự tương đồng giữa chế độ “bản vị đôla” với hệ thống Bretton Woods nguyên bản cho thấy nhiều vấn đề hiện nay cũng từng nảy sinh trong quá khứ.
Barry Eichengreen từ ĐH California, Berkeley viết về điều này trong cuốn “Đặc quyền đắt giá” về quá khứ và tương lai của hệ thống tiền tệ quốc tế.
Ví dụ như sự căng thẳng giữa nhu cầu dự trữ ngoại hối của các nền kinh tế mới nổi với nỗi lo đồng tiền dự trữ chính (USD) có thể mất giá, một thế lưỡng nan lần đầu được nhà kinh tế Bỉ Robert Triffin nhắc tới năm 1947.
Triffin cho rằng khi thế giới chỉ dựa vào một đồng tiền dự trữ duy nhất, quốc gia phát hành đồng tiền ấy phải phát hành thật nhiều tài sản (thường là trái phiếu chính phủ) để bôi trơn thương mại quốc tế và đáp ứng nhu cầu dự trữ.
Nhưng càng phát hành nhiều trái phiếu, lại càng nhiều khả năng chúng sẽ không được thanh toán. Cuối cùng, nhu cầu vô độ của thế giới với tài sản dự trữ “phi rủi ro” sẽ khiến tài sản ấy không còn “phi rủi ro” nữa.
Nếu cơn khát USD hiện nay tiếp diễn với tốc độ hiện tại thì theo tính toán của IMF tổng dự trữ toàn cầu sẽ tằng từ 60% GDP Mỹ hiện nay lên 200% năm 2020 và 700% năm 2035.
Nếu kho dự trữ ấy chủ yếu dưới dạng trái phiếu chính phủ như hiện nay, Mỹ sẽ phải vật lộn với gánh nặng nợ nần.
Trừ khi họ hạn chế bớt bằng cách mua lại tài sản nước ngoài, nếu không Mỹ sẽ thấy mình ngày càng ngập sâu trong gánh nặng nợ nần với nước ngoài.
Giải pháp Triffin đề xuất là tạo ra một tài sản dự trữ nhân tạo neo vào một rỏ hàng hóa. Vài năm trước đó John Maynard Keynes cũng nghĩ tới một tài sản tương tự với tên gọi “Bancor”.
Ý tưởng của Keynes bị Mỹ gạt đi vì họ là người chịu thiệt. Ý kiến Triffin cũng bị lờ đi suốt 20 năm.
Nhưng vào năm 1969, khi tình hình thâm hụt ngân sách và tỷ giá quy đổi vàng-USD trở nên căng thẳng, một tài sản dự trữ nhân tạo ra đời: Quyền rút vốn đặc biệt (SDR) của IMF.
Giá trị của SDR dựa trên một rỏ USD, EUR, GBP và JPY. Các thành viên IMF đồng thuận sẽ định kỳ phân bổ SDR, các nước có thể đổi ra đồng tiền khác nếu cần.
Tuy vậy, SDR chưa bao giờ được sử dụng phổ biến. Đồng tiền này chỉ chiếm 5% dự trữ toàn cầu và không có chứng khoán tư nhân nào phát hành bằng đồng SDR.
Một số người muốn thay đổi điều này. Thống đốc NHTW Trung Quốc Chu Tiểu Xuyên gây xôn xao dư luận khi vào tháng 03/2009, ông cho rằng SDR nên trở thành tài sản dự trữ toàn cầu thay cho USD.
TT Sarkozy cũng nghĩ tương tự và kêu gọi một giải pháp đa phương đối với hệ thống tiền tệ. Nếu hàng hóa được định giá bằng SDR thì giá cả sẽ ít xáo động hơn. Và nếu các nước dự trữ bằng SDR, họ sẽ thoát khỏi thế lưỡng nan của Triffin.
Tuy vậy, để SDR thực hiện được vai trò này, nguồn cung “đồng tiền” này phải dồi dào hơn. IMF đã đồng ý phân bổ 250 tỷ USD giá trị SDR để đối phó với khủng hoảng tài chính nhưng dự trữ toàn cầu mỗi năm tăng tới 700 tỷ USD.
Kể cả SDR có nhiều đi chăng nữa thì vẫn chưa rõ các chính phủ nắm giữ nó để làm gì. USD hấp dẫn ở chỗ nó được hỗ trợ bởi những thị trường vốn thanh khoản nhất thế giới. Ít quốc gia nào lại dùng nhiều SDR khi mà vẫn chưa có những thị trường tư nhân cho các tài sản định giá bằng SDR.
Chỉ khi IMF trở thành NHTW toàn cầu với khả năng phát hành nhanh chóng, SDR mới thực sự trở thành tài sản dự trữ chính. Đây là điều khó có thể xảy ra.
Eichengreen viết: “Không có chính phủ toàn cầu … nghĩ là không có NHTW toàn cầu, không có đồng tiền toàn cầu. Chấm hết.”
Cũng chưa rõ có thực sự cần SDR thay thế cho USD. EUR là ứng cử viên còn sáng giá hơn. Bất chấp cuộc khủng hoảng tài khóa năm nay, các quốc gia có thể chuyển dự trữ sang EUR nếu Mỹ mắc sai lầm trong quản lý tài chính hay chỉ là vì thế giới lo sợ điều đó sẽ xảy ra.
Tốc độ chuyển đổi có thể rất nhanh, ông Eichengreen chỉ ra rằng năm 1914 USD chẳng có vai vế gì trên trường quốc tế nhưng đến năm 1925, số dự trữ bằng USD đã qua mặt Bảng Anh (GBP).
Trung Quốc cũng có thể tạo ra một đối thủ của USD nếu họ để NDT được sử dụng trong các giao dịch tại nước ngoài. Trung Quốc đã tiến những bước đầu tiên theo hướng này, ví dụ như cho phép các công ty được phát hành trái phiếu định giá bằng NDT tại Hong Kong.
Tuy vậy, một đồng tiền quốc tế cần những thay đổi mạnh mẽ hơn nữa. Một số nhà quan sát cho rằng Trung Quốc ủng hộ SDR cũng là có ẩn ý của họ: nếu NDT trở thành một cấu phần trong rỏ tính toán SDR thì các nước khác cũng phải chịu rủi ro với các tài sản bằng NDT.
Nhiều khả năng hơn là Trung Quốc đang tìm cách hạn chế rủi ro tỷ giá đối với dự trữ bằng USD.
Khi NDT lên giá so với USD (chắc chắn là như thế), số dự trữ ấy sẽ mất giá. Nếu Trung Quốc có thể hoán đổi USD lấy SDR, phần nào rủi ro tỷ giá sẽ được chuyển cho các thành viên khác trong IMF.
Một ý tưởng tương tự vào thập niên 70 cũng bị lãng quên vì các thành viên IMF không thể đồng thuận ai sẽ là người gánh chịu rủi ro. Khi ấy cũng như bây giờ, ắt Mỹ sẽ từ chối.
Thay vì tạo ra một tài sản dự trữ toàn cầu, đi theo hướng giảm nhu cầu dự trữ có thể sẽ thành công hơn. Điều này có thể thực hiện bằng cách tăng khả năng tiếp cận với các nguồn vốn trong khủng hoảng.
Hiện nay G20 đã đạt được nhiều tiến bộ dưới sự lãnh đạo của Hàn Quốc. Các thể thức cho vay của IMF đã được cải tổ để các quốc gia được lãnh đạo tốt có thể được bơm vốn không hạn chế trong hai năm.
Vượt qua “thói” hà tiện
Cho đến nay chỉ vài nền kinh tế mới nổi như Mexico và Ba Lan đăng ký, đặc biệt là vì họ phải xấu mặt nếu có nhận khoản vay nào từ IMF. Có lẽ sẽ thuyết phục được các nước khác gia nhập (tốt nhất là theo một nhóm lớn).
Phục hồi và thể chế hóa các thỏa thuận hoán đổi giữa FED và các nền kinh tế mới nổi từng được tạm thiết lập trong khủng hoảng tài chính cũng có thể sẽ giảm nhu cầu dự trữ với mục đích bảo hiểm.
Nỗ lực gộp chung kho dự trữ trong một khu vực cũng có thể khiến các nước đều được an toàn hơn.
Tuy vậy, dù cho đã tiếp cận được với dòng vốn khẩn cấp, các chính phủ vẫn sẽ muốn tích trữ vì họ quyết tâm định giá thấp đồng tiền của mình.
Đó là lý do nhiều nhà cải cách nghĩ hệ thống tiền tệ quốc tế cần có chế tài phạt do IMF và Tổ chức thương mại thế giới (WTO) áp dụng chống lại các nước “thao túng” đồng tiền và liên tục có thặng dư.
Sáng kiến này cũng có lịch sử của riêng nó. Cùng với Bancor, Keynes muốn các nước có thặng dư quá mức bị phạt, đặc biệt là vì những gì xảy ra thời Đại suy thoái khi chiến tranh tiền tệ và động thái tích trữ vàng khiến thế giới thêm lao đao.
Ý kiến này chẳng đi đến đâu vì Mỹ khi ấy là nền kinh tế có thặng dư mới là người quyết định tại hội nghị Bretton Woods năm 1944.
Ngày nay sự thể cũng chẳng khác, trừ việc Mỹ nay đã là nước chịu thâm hụt. Giống như Mỹ hồi thập niên 1940, Trung Quốc sẽ chẳng bao giờ đồng ý cải cách theo hướng phạt các nước có thặng dư.
Dù sao thì các quy tắc như thế có lẽ cũng không thể thực thi được. Trong các thỏa thuận kinh tế quốc tế, chuyện phạt chẳng mấy khi hiệu quả (hãy nhớ lại Hiệp định Ổn định và Tăng trưởng Châu Âu mà xem).
Đồng thuận phần nào lại có triển vọng hơn. Giống như Hiệp ước Plaza năm 1985 nhằm làm USD yếu đi và thu hẹp thâm hụt tài khoản vãng lai của Mỹ, G20 có thể đề ra một kế hoạch tái cấn đối kinh tế thế giới, có lẽ là nhắm tới các mục tiêu như cân đối tài khoản vãng lai và tỷ giá thực.
Kế hoạch ấy sẽ được hỗ trợ bằng sức ép đa phương thay vì chế tài phạt công khai.
Một kế hoạch tái cân đối bao gồm NDT tăng giá nhanh hơn sẽ làm dịu đi căng thẳng trong hệ thống tiền tệ hiện nay. Nhưng sẽ phải có thời gian mới chuyển được nguồn lực của Trung Quốc và các quốc gia có thặng dư khác từ xuất khẩu sang tiêu dùng.
Trong khi đó, dòng vốn đổ vào các thị trường mới nổi có lẽ sẽ còn mạnh mẽ hơn nữa. Một phần là vì chính sách “nới lỏng định lượng” của Mỹ: lãi suất thấp sẽ khuyến khích giới đầu tư kiếm tìm lợi suất cao hơn.
Một phần vì chênh lệch tốc độ tăng trưởng giữa các nền kinh tế mới nổi năng động và các nước giàu trì trệ. Nó còn phản ánh việc tài sản tại các thị trường mới nổi đang hiện diện quá ít trong danh mục của giới đầu tư.
Trong thập kỷ qua, các nền kinh tế mới nổi đối phó với dòng vốn trên bằng cách tăng cường tích trữ. Họ cần có những lựa chọn khác.
Một giải pháp được Brazil, Hàn Quốc, Thái Lan và nhiều nước khác áp dụng là áp hoặc tăng thuế và các quy định để làm chậm lại dòng vốn trên.
Một số học giả cho rằng nên đưa ra một danh sách các biện pháp được chấp nhận tương tự như danh sách hàng rào thương mại hợp pháp của WTO.
Đây là một bước đi thông minh nhưng không phải không có hạn chế. Kiểm soát dòng chu chuyển vốn chỉ tạm thời ngăn được dòng vốn ngoại.
Nhưng kinh nghiệm cho thấy việc kiểm soát này chỉ làm thay đổi cấu trúc chứ không phải lượng vốn ngoại; và nó không phát huy tác dụng mãi mãi. Khi quan hệ thương mại trở nên chặt chẽ hơn, ắt tài chính cũng phải hội nhập sâu rộng hơn.
Cũng có một số công cụ khác. Ví dụ như thắt chặt chính sách tài khóa ở các nền kinh tế mới nổi có thể làm giảm nguy cơ kinh tế tăng trưởng quá nóng.
Các quy tắc tài chính nội địa nghiêm ngặt hơn giảm khả năng bùng nổ tín dụng. Các nước từ Singapore đến Israel đã thắt chặt thêm các quy tắc ví dụ như tỷ lệ tiền vay trên giá trị nhà tối đa.
Nhưng cũng cần để đồng nội tệ biến động linh hoạt hơn. Bộ ba bất khả thi cho rằng: nếu vốn tự do di chuyển, đồng nội tệ ít biến động cuối cùng sẽ dẫn tới lạm phát và bong bóng tài sản.
Trừ khi các nước sẵn sàng sống chung với những đợt bùng nổ ấy (mà theo sau đó là suy thoái), Bretton Woods 2 sẽ phát triển thành một hệ thống tương tự như tại các nước giàu hiện nay, với thị trường vốn hội nhập sâu rộng và đồng nội tệ được thả nổi.
Áp lực của dòng chu chuyển vốn phụ thuộc vào tương lai của các nền kinh tế phát triển, đặc biệt là Mỹ.
Các nền kinh tế mới nổi có sẵn sàng thả nổi đồng tiền hay không còn tùy vào Trung Quốc. Vì Trung Quốc kiểm soát vốn mạnh mẽ và hiệu quả hơn các nước khác, nên cái neo tỷ giá của họ cũng là vững chắc nhất.
Nếu kinh tế Mỹ phục hồi và triển vọng ngân sách trung hạn tốt lên, vốn sẽ đổ vào các nước mới nổi với tốc độ chậm hơn.
Nếu Trung Quốc để NDT biến động linh hoạt hơn và bớt kiểm soát tài khoản vốn, hệ thống tiền tệ quốc tế sẽ đối phó tốt hơn với quá trình toàn cầu hóa tài chính tiếp diễn và chênh lệch tăng trưởng giữa các nước giàu và các nước mới nổi.
Nhưng nếu nền kinh tế lớn nhất thế giới đình trệ và nền kinh tế lớn thứ hai giữ đồng tiền ở mức giá thấp và kiểm soát chặt tài khoản vốn, một hệ thống tiền tệ cứng nhắc ắt sẽ có ngày sụp đổ.

Minh Tuấn
Theo Economist

Share/Bookmark

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...